Có lẽ từ trước đến nay, những người tu theo đạo Phật theo trường
phái của Thiền Tông thường không ghi nhận những
thành quả có được của Tịnh
độ tông. Nhưng ngược lại, cũng giống như Thiền tông, một số người bên
Tịnh Độ tông rất tin tưởng vào Pháp môn mà mình đang theo đuổi.
Thực ra Tịnh độ tông có những người thực hành theo pháp môn niệm
Phật cũng đạt được những thành quả nhất định.
Người ta thường nói: "Ai
tu, người đó chứng; ai tội, người ấy mang". Nhưng dường như còn rất nhiều người
theo trường phái Phật giáo nguyên thủy của Thiền tông không tin tưởng vào những
thành quả của những người tu theo Phật giáo đại thừa của Bắc tông.
Thực tế ra, cho đến nay, đã gần hai nghìn sáu trăm năm lịch sử
Phật giáo hình thành và phát triển. Từ khi Phật Thích Ca ra đời, tìm đường giải
thoát, và qua quá trình thực hành thiền định, Ngài đã giác ngộ và tìm ra những
chân lý vốn có mà trong lịch sử loài người hàng triệu năm trước đó chưa phát
hiện. Ngài đã truyền lại giáo pháp cho 5 người đệ tử đầu tiên của mình,
rồi dần dần đến hàng nghìn vị đệ tử.
Và hàng chục, hàng trăm rồi hàng nghìn năm sau - khi Ngài đã tịch diệt - các thế hệ từ đời này nối tiếp đời khác học tập theo con đường của Ngài, tu theo đạo Phật.
Trong hàng nghìn năm qua, đã có bao nhiêu thế hệ học theo Ngài, thực hành tu tập. Và cũng trong chiều dài lịch sử ấy - có lẽ trong quá trình thực hành thiền định, và cũng có thể họ tìm nhiều phương pháp để rèn luyện sự định tâm - họ đã phát hiện ra bao điều mới mẻ khác qua tâm định của họ. Và cũng có lẽ từ đó, trong lịch sử Phật giáo đã có thêm tên những vị Phật khác như Phật Di Đà, Phật Dược Sư… Rồi đến Quán Thế Âm Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác…Từ đó, Phật giáo phát triển thêm nhiều tông phái, như Tịnh độ tông và Mật tông. Đại thừa Phật giáo ra đời.
Và hàng chục, hàng trăm rồi hàng nghìn năm sau - khi Ngài đã tịch diệt - các thế hệ từ đời này nối tiếp đời khác học tập theo con đường của Ngài, tu theo đạo Phật.
Trong hàng nghìn năm qua, đã có bao nhiêu thế hệ học theo Ngài, thực hành tu tập. Và cũng trong chiều dài lịch sử ấy - có lẽ trong quá trình thực hành thiền định, và cũng có thể họ tìm nhiều phương pháp để rèn luyện sự định tâm - họ đã phát hiện ra bao điều mới mẻ khác qua tâm định của họ. Và cũng có lẽ từ đó, trong lịch sử Phật giáo đã có thêm tên những vị Phật khác như Phật Di Đà, Phật Dược Sư… Rồi đến Quán Thế Âm Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác…Từ đó, Phật giáo phát triển thêm nhiều tông phái, như Tịnh độ tông và Mật tông. Đại thừa Phật giáo ra đời.
Cho tới ngày hôm nay, hình như Thiền tông phái vẫn còn nhiều người
không thừa nhận Phật giáo đại thừa của Bắc tông. Do vậy, vẫn có những sự tranh
cãi kéo dài mãi, mỗi bên đều có những lý lẽ bảo vệ luận điểm của tông phái
mình.
Thực ra, đứng giữa với quan
điểm trung dung thì ta sẽ thấy Phật giáo như một cây đại thụ. Từ một gốc cây ban đầu là thực
hành thiền định qua sự chỉ dạy của Ngài Sakya Muni, dần dần phát triển ra thêm
nhiều cành, nhiều lá. Người ta nói Tịnh độ tông và
Mật tông giống như những cành lá phát triển ra từ một gốc cây ban đầu của Phật
giáo. Trải qua nhiều năm tháng thực hành và phát triển, nó đã trở thành một cây
lớn có thêm nhiều cành lá xum xuê. Đó chính là sự phát triển của Đại thừa Phật
giáo với những phương pháp tu hành khác, như niệm Phật, trì chú, bắt ấn…
Những thế hệ sau này họ đã phát hiện ra nhiều phương cách khác để
có thể đạt được sự định tâm và họ cũng phát hiện ra nhiều cảnh giới khác nhau.
Ví dụ như cảnh giới có nhiều sự an lạc, và điều đó được người ta đặt tên là Thế
giới cực lạc.
Thiền tông thực hành thiền định, chứng đắc các tầng thiền từ Hữu
sắc, đến Vô sắc, và cuối cùng là cảnh giới Niết bàn (Nibbāna), hay còn gọi là
Siêu thế, thì đó là các cảnh giới và các tầng thiền họ phải trải qua hay
chứng nghiệm theo phương pháp thiền của Thiền tông.
Theo Vi Diệu Pháp, chúng ta cũng hiểu là có 4 cảnh giới khác nhau,
đó là:
1. Dục giới: Ở
đây có Nam , có nữ; có giống đực và giống
cái, và Dục giới cũng là những cảnh giới ham mê dục lạc, ái dục. Vướng mắc ở
ngũ uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức và tham đắm thông qua ngũ quan là năm giác
quan: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân.
2. Sắc giới: Ở
cảnh giới này không còn có giống đực và giống cái, không có sự phân biệt nam -
nữ, và vẫn còn "Sắc" nhưng ở hình thái vi tế. Tức là ta vẫn còn nhìn
thấy hình ảnh (hình bóng, linh ảnh)
3. Vô Sắc Giới: Ở
cảnh giới này ta chỉ còn nhận biết bằng tâm, không còn thấy hình tướng, sắc
thái.
4. Siêu thế: Tức
đã vào Niết bàn.
Như vậy theo Vi Diệu Pháp, thì khi chứng đắc các tầng thiền ở cõi
Sắc giới là đã vượt ra khỏi cảnh giới Dục giới. Và ở đây không còn giới tính
nam - nữ, không còn sự tham dục, luyến ái. Nhưng ở đây vẫn còn hình ảnh vì đang
ở cõi Sắc giới.
Và dựa theo Vi Diệu Pháp, thì một số người bên Thiền tông khẳng
định rằng A Di Đà của Tịnh độ tông vẫn ở cảnh giới Dục giới. Vì theo họ
thì Phật Di Đà vẫn được gọi là ông Phật; hay Quán Thế Âm Bồ tát vẫn
thường được người ta gọi là Mẹ Quán Âm hay Phật Bà Quán Âm Bồ Tát.
Có nhiều người có thói quen gọi là Quan Thế Âm; nhưng thực ra,
cách gọi đúng là Quán Thế Âm. Quán Thế Âm là gì? Là Ngài từ bi quán chiếu, suy
xét, lắng nghe những âm thanh của thế gian (Thế Âm) để cứu khổ, cứu nạn cho
chúng sinh.
Quay trở lại với việc phân biệt giữa Dục giới và Sắc giới. Thiền tông cho rằng Phật Di Đà cùng
với những vị Bồ tát trong thế giới của Tịnh độ vẫn ở trong dục giới. Vì Họ vẫn
hiện thân là đàn bà hoặc đàn ông.
Theo một số người trong Tịnh Độ tông, họ lại cho rằng: những Vị
Phật này không còn ở cảnh giới Dục giới vì Họ không có sự luyến ái nam – nữ. Họ
hiện thân như vậy là để gần gũi với con người và từ bi cứu độ chúng sinh trầm
luân, khổ ải. Nếu con người nghĩ đến những Vị Phật này và thích những vị Phật
này hóa thân là đàn ông thì những Vị Phật, Bồ tát này sẽ là đàn ông; thích Họ
là đàn bà thì những Vị Phật này sẽ hóa thân là đàn bà. Họ đã thoát ra ngoài sự
phân biệt nam nữ và dục vọng nam nữ.
Theo cách nhìn của Tịnh độ tông dựa
trên các cảnh giới của Vi Diệu Pháp, thì những
Vị Phật này không ở Dục giới, mà Họ đang ở cõi “Hữu Sắc” hay còn gọi là Sắc
giới, gần gũi với con người và từ
bi cứu độ chúng sinh.
Cũng vẫn theo Thiền tông, thì những Vị “Phật” theo cách gọi của
Tịnh độ này chỉ là ở cõi “Tiên”,
gần với con người.
Thực ra “Tiên” hay “Phật” cũng chỉ là cách gọi hay dùng từ để định
nghĩa của con người dành cho những “Vị” này mà thôi.
Vậy “Phật” là gì?
Phật là một từ chỉ cho sự giác
ngộ, sự từ bi, sự trí tuệ. Phật là từ để chỉ sự hiểu biết đúng các thực tướng
của sự vật, hiện tượng.
Trong Vi Diệu Pháp nói rằng Niết bàn hay siêu thế là cảnh giới đã
vượt qua cả cảnh giới Vô Sắc. Khi đó không còn thấy hình tướng nữa.
Vậy thực chất những vị "Phật" và "Bồ tát" này
là gì?
Có thể đó là những vị Phật từ bi ở cõi Sắc giới gần gũi với con
người, hóa thân thành những hình tướng giống con người để tế độ con người và
những chúng sinh khác.
Cũng có thể những vị "Phật" này là những vị Tiên ở cõi
Tiên. Ở cõi giới có đầy sự an lành và hạnh phúc, đầy sự an lạc (cực lạc) mà có
lẽ những người tu theo Tịnh độ đã từng chứng nghiệm ở cõi giới này đã trải qua.
Cho dù những Vị này là Tiên hay
là Phật đi chăng nữa thì dù sao ở cõi của Họ cũng là cảnh giới tốt đẹp vô
cùng so với cuộc sống nơi cảnh giới của con người (theo cách nhìn của Tịnh độ).
Họ là những Vị đầy lòng từ bi thương sót chúng sinh và cứu vớt những linh
hồn trầm luân ở cõi ta bà này về sống nơi thế giới của Họ - một thế giới đầy sự
an lạc. Ở cảnh giới này, những linh hồn mới được vãng sanh về đây vẫn phải tu
tiếp để tiến hóa tâm linh. từ đệ Nhất phẩm cho đến phẩm thứ chín.
Và còn tiếp tục phát triển thêm nữa.
Theo những người tu theo trường
phái Tịnh độ, thì thế giới Cực lạc là một thế giới vô cùng tươi đẹp! “Cực”: là
vô cùng, là hết cỡ; “Lạc”: là sự an lạc, là sự hưởng lạc, hay là những cảm giác
khoái lạc về cơ thể vật chất. Nó không phải sự khoái lạc của lạc thú ái dục.
Nếu ai đã từng có cảm giác khoái lạc khi trải qua những khoảnh khắc định tâm
thì sẽ hiểu và cảm nhận được sự “lạc” này. “Lạc” ở đây chính là trong từ “hỷ lạc”
của những người từng trải nghiệm khi đạt được sự định tâm này. “Cực lạc” là cực
kỳ an lạc, hay có thể nói là an lạc vô cùng.
Nếu tu theo Tịnh độ tông và vãng sanh sang thế giới Cực Lạc như mọi người cùng nói đến thì thế giới này cũng là vô cùng ưu việt so với thế giới của loài người. Nhưng có lẽ ở đây vẫn chưa phải là Niết bàn (theo Vi Diệu Pháp thì đây vẫn là cõi Hữu sắc).
Nếu tu theo Tịnh độ tông và vãng sanh sang thế giới Cực Lạc như mọi người cùng nói đến thì thế giới này cũng là vô cùng ưu việt so với thế giới của loài người. Nhưng có lẽ ở đây vẫn chưa phải là Niết bàn (theo Vi Diệu Pháp thì đây vẫn là cõi Hữu sắc).
Có lẽ dựa theo tài liệu Vi diệu
Pháp, và qua sự chứng đắc các tầng thiền của mình mà một số người bên Thiền
tông đã phủ nhận thế giới Cực lạc của Tịnh độ tông chăng? Nếu như Thiền
tông không công nhận sự đạt được một số thành quả nhất định trong sự định tâm
của Tịnh độ tông thì có lẽ cũng chưa đúng. Nhưng có lẽ Thiền Tông có lý khi cho
rằng Cực lạc của Tịnh độ không phải là Niết Bàn. Niết bàn siêu thế mới chính là
cảnh giới mà chúng ta thoát ly hẳn sinh tử.
