Sunday, March 09, 2014




Người ta thường xếp đề tài Thần Thông vào loại nhạy cảm hay đúng hơn là đề tài rất đáng sợ. Thật vậy, Thần Thông là một trò đùa với lửa, liếm mật trên lưỡi dao bào. Phần thưởng của trò chơi này chắc chắn là "giải khát bằng rượu độc".

Dù là khoa học gia hay là người tu Huyền Môn, câu trả lời của họ về vấn đề này đều chung chung mơ hồ. Thật vậy từ Đông sang Tây, từ Cổ chí Kim, ai theo đuổi con đường này đa phần cũng đến chỗ thân bại danh liệt: Mesmer ở trời Tây, Ts. Nguyễn Hoàng Phương ở Việt Nam.

Từ xưa đến nay, đối với đại đa số người tu, dù có muốn tập Thần Thông cũng gần như không có tài liệu nào hướng dẫn thực tế chi tiết để tập; do đó không tập được. Từ đây phát sinh một tâm lý tiêu cực là đánh giá thấp Thần Thông, thậm chí còn coi Thần Thông là cặn bã của Thiền Định.

Hôm nay chúng tôi muốn chia sẻ cùng các bạn về kinh nghiệm Thần Thông của nhóm: Trong 1 lần đăng bài trên một diễn đàn mạng  có một độc giả đặt câu hỏi về bài viết của Tâm linh - Cuốc sống. Vì muốn trao đổi hiệu quả và phù hợp với ý muốn với của quý độc giả nên phải tìm cách hữu hình hóa nó. Cách thức là Tâm linh - Cuộc sống đem những kiến thức từ các bài viết ứng dụng cụ thể vào thực tế. 

Nguyên tắc là người tu tập trung tư tưởng, sau đó tìm cách để gạt ý thức của người mình muốn tìm hiểu sang một bên, nghĩa là tháo bỏ con búp bê ngoài cùng của đối tượng ra (không cần quan tâm đến đó là người già trẻ lớn bé) và tìm cách đi sâu vào những con người sâu thẳm bên trong, vào tiềm thức của đối tượng để biết việc này việc nọ. Quý bạn khi đọc "Nguyên Tắc búp bê Matryoshka" đã biết con người chúng ta không phải chỉ có một con người mà là có nhiều con người bên trong một con người.

Thao tác kỹ thuật diễn ra theo một tiến trình sau đây
Chúng tôi chọn một vị thế ngồi thoải mái và thư giãn nhất. Sau đó lấy tác giả của câu hỏi làm Công án để Chỉ và Quán. Luồng Tâm Thức sẽ diễn tiến tuần tự để đạt được An Chỉ Tâm. Tại đây chúng tôi bước qua một Cảnh Giới khác. Để biết chắc việc chuyển sang Cảnh Giới Thiền Hữu Sắc là chính xác, chúng phải kiểm tra lại cấu tạo Sắc và cấu tạo Tâm của mình.

Việc kiểm tra này hoàn toàn không phải là thừa vì chúng tôi có lúc Nhập Định lầm vì thấy mình là một người Nam cao lớn. Do thấy yếu tố Nam Nữ nên rõ ràng đó là Cảnh Thiên của Dục Giới. Chúng tôi phải sửa sang lại Sắc và Tâm của mình để phù hợp với Cảnh Thiền Hữu Sắc. Khi đã khẳng định mình đang ở đúng Cảnh Giới này thì sẽ sử dụng những giác quan vốn có của Cảnh Giới này để tìm kiếm bạn độc giả đặt câu hỏi. Nhưng lúc này người hỏi lại không ở cùng Cảnh Giới với chúng tôi, nên chúng tôi phải tập trung vào câu hỏi của người đó; nhờ vào Định Luật Tương Ưng để dò tìm tần số. Khi đã lần ra được đầu mối, thì giống như người làm công tác điều tra, cứ tiếp tục hỏi những điều muốn biết thì các biểu tượng của người hỏi (chứ không phải hình ảnh) từ từ hiện ra mang đến thông tin cho chúng tôi như sau:

- Vị độc giả này hay đặt câu hỏi, tham gia nhiệt tình nên dễ gây ra hiểu lầm.

- Vấn đề người hỏi đặt ra câu hỏi cho Tâm linh - Cuộc sống (TLCS) có lẽ chỉ muốn có những thông tin chung chung. Lúc chưa nhập định TLCS phân vân giữa hai cách trả lời: Một là tổng quát, hai là chi tiết. Cụ thể là vấn đề hào quang (aura) nếu trình bày đủ các phần: Hiệu ứng ion hóa, hiệu ứng Kirlan, phản biện, bảo vệ, cách tập luyện ... phải kéo dài nhiều chục trang.
- Qua Quán tưởng (chúng tôi thành thật xin lỗi vì chưa được phép của người hỏi). Chúng tôi được biết người hỏi là người tốt bụng, chân thành, vui vẻ dễ thương.

PHẦN PHỤ LỤC

1. Như đã trình bày ở những bài viết của nhóm thì những năng lực khác thường của con người thường được gọi là Thần Thông.
2. Tiến trình về kỹ thuật được trình bày ở trên thì với người không quen tu ThiềnĐịnh, nó có vẻ mang tính chất cao siêu huyền bí ... Thật ra nó cũng chỉ là công trình tập luyện, sau đó trở thành thói quen.
3. Tính hiệu quả chỉ có tính chất tương đối. Thật vậy ngay cả toán học, lãnh vực được mô tả là chính xác cao, vẫn có những sai lầm chết người. Có rất nhiều lý do để đưa lại hệ quả chính xác không cao, chúng tôi xin phép được trình bày trong một dịp khác. Cuộc sống không có gì là hoàn hảo. Do đó, những điều được trình bày ở phần trên nếu có sai sót xin quý độc giả lượng thứ. Chúng tôi tự trách mình là học nghệ chưa tinh. 
4. Có cách nào chống lại những kẻ hiếu kỳ không mời mà đến? Nếu bạn không muốn bị người khác Tác Pháp hoặc Quán Tưởng? Xin thưa khá dễ dàng, Định Tâm và Nhập vào các loại Định Vô Tưởng. 
5. Nhưng ngược lại, lúc ngủ là lúc mất cảnh giác nhất vì ý thức bị mất. Nằm mơ có nghĩa là chủ nhà vắng nhà. Đây là lúc thuận lợi nhất cho những kẻ hiếu kỳ, tò mò tìm đến. 
6. Người ta còn sử dụng dạng "Nhập". Dạng này vô cùng phổ thông trong xã hội, ít nhất là ở Việt Nam như: Cô, Cậu, Đồng bóng, Cậu trạng, Thầy ... thật giả đủ các loại. Những người bị Nhập thật có khả năng biết việc hiện tại và quá khứ gần ... đôi khi chính xác một cách đáng kinh ngạc. Nhưng họ thường không có khả năng biết về tương lai và biết về người tu Thiền Định. Cá biệt cũng có Vong Linh lại biết về tương lai vài chục năm sau. 
7. Các cơ quan điều tra về tội phạm trên thế giới thường sử dụng công cụ Thôi Miên, công cụ này tác động như sau: Dùng một nguồn sáng mạnh, để cao hơn tầm mắt của người bị thôi miên, kèm theo khuyến dụ bằng lời nói. Thao tác này làm cho người bị thôi miên mất đi ý thức, không còn kiểm soát và làm chủ được mình nữa. Trạng thái này thuật ngữ chuyên môn gọi là TRANCE và người thôi miên sẽ đi vào lục lọi trong tiềm thức của người bị thôi miên những thông tin mà mình muốn biết.





Posted on Sunday, March 09, 2014 by Unknown

No comments


DẪN NHẬP KHÁI NIỆM SƠ ĐẲNG về THẦN THÔNG

1. Dẫn nhập

Khi nói tới Thần Thông, người ta liên tưởng đến tu Thiền Định. Những tu sĩ Upanisad được phỏng đoán là những người tu Thiền Định đầu tiên, và do vậy Thần Thông đã là một đề tài quá cổ xưa; ít nhất cũng đã mấy ngàn năm qua.

Tuy vậy cho đến tận hôm nay, chủ đề này vẫn nóng, không những cho người tu mà cho cả các khoa học gia. Josephson là một khoa học gia và đã từng được giải thưởng Nobel vật lý, đã bỏ chuyên ngành của mình để bước vào nghiên cứu ngành tâm linh.

Tại sao ngành này lại có sức hấp dẫn như vậy? Lý do là vì đã qua nhiều ngàn năm với nhiều nỗ lực tìm hiểu nhưng người ta vẫn chưa tìm ra được câu trả lời. Bộ môn này trên thế giới không thể tìm được nguồn tài trợ, vì nhà tài trợ không biết dựa vào cơ sở khoa học nào để tài trợ. Có lẽ chỉ có vài chục nhà Bác Học được trả lương cho công việc khảo cứu bộ môn này. Và so với trên 7 tỷ nhân loại có mặt trên hành tinh thì số lượng này quả là quá khiêm tốn. 

Những bộ môn liệt kê sau đây có bản chất tương tự như nhau. Tuy nhiên nếu chỉ nghe đọc tên thì chúng ta cảm thấy nó rất khác nhau:

- Iddhi.
- Psychokinesis.
- Parapsychologgy.
- Paranormal powers.
- Supernatural powers.
- Misdiretion technique (Kỹ thuật ảo thuật).
- Pouvoir surnaturel (qui excede les forces de la nature).
- Pouvoir surnaturel (Thần Thông).
- Force magique (Thần Lực).

- Thần là Thánh Thần, là màu nhiệm, phi thường, tự tại, thù thắng, linh diệu, bất trắc không thể nghĩ bàn. Thông là vô ngại không có gì ngăn trở nổi, lưu thông tự tại. - Lực là sức mạnh phi thường (từ ngữ Thần Thông và Thần Lực được giải thích theo nguyên ngữ từ chữ Hán).

Những từ ngữ này nói chung mô tả những hiện tượng được gọi là khác thường. Những hiện tượng này được ghi chép lại từ một số tài liệu cổ xưa, mà đến nay người ta vẫn còn biết đến của hai trường phái Yoga và Phật Giáo … đặc biệt nhất là trường phái Thiền Định và Mật Giáo Tây Tạng.

Người ta thường nghĩ những trường phái này có đầy vẻ huyền bí, cao siêu, thậm chí là phép thuật kỳ lạ đáng sợ … kiểu như Milarepa đã tạo một trận “bão táp sa mạc” (phỏng theo huyền sử của đời ông). Nhưng trên thực tế, người tu Thiền Định, ngồi công phu từ 1, 2 năm cho đến 20, 30 năm … kể cả Tam Tạng ngồi cả đời, chai cả bàn tọa … chẳng đắc pháp thuật kỳ lạ gì cả; thế nên chỉ cần một Tiểu Yêu Tinh cũng bắt được Ngài.

Ngay cả những Đàn Pháp (Mandala) to lớn tốn kém, cũng chẳng thấy có gì nhiệm màu để người ta phải quan tâm. Trước kia Đàn Pháp được mô tả là chân truyền, huyền bí. Ngày nay vào thời đại @, có cả Đàn Pháp trên máy vi tính. Tất cả những chuyện trên đã khiến những người tu tập theo trường phái này, có người đã tu trên nửa thế kỷ, cũng đâm ra hoang mang mất phương hướng, chẳng biết giải quyết làm sao. Thôi thì phóng lao thì phải theo lao!

Việc này đã tồn tại trong nhiều thế kỷ - đúng hơn là đã mấy ngàn năm rồi. Ai cũng hy vọng có ngày tìm ra được câu trả lời. Chân lý vốn đơn giản. Nhưng có lẽ cũng chính tại con người lắm “mưu thần chước quỷ” nên tự hại chính mình. Lão Tử đưa ra chủ thuyết Vô Vi; còn chúng ta có lẽ cũng nên xem lại cách suy nghĩ, ứng xử của mình.

2. Những quan niệm khác nhau về Thần Thông:

Có rất nhiều quan điểm chung quanh vấn đề này:

- Không thừa nhận sự tồn tại của Thần Thông, Thần Lực. Nó tồn tại trái ngược với nền tảng khoa học mà con người thiết lập được từ thời Phục Hưng. Nếu công nhận sự tồn tại của nó, có nghĩa là bác bỏ những thành tựu Khoa học của 300 năm qua. Nó đi ngược lại các quy luật vật lý như Bảo toàn, Dẫn truyền, Tiêu hao năng lượng.

- Thần Thông, Thần Lực chỉ là mê tín dị đoan, không có, thật khó kiểm chứng, sự thật là không thể kiểm chứng được. Không đáp ứng yêu cầu của Luận  Hình Thức.
- Có người cho là trình độ khoa học hiện nay, không đủ khả năng để giải thích Thần Thông, Thần Lực. Vấn đề này nằm ngoài giới hạn của Khoa học hiện hành.
- Có người thì lại cố gắng sử dụng lý thuyết của Khoa học hiện hành, thí dụ như tác giả Barbara Ann Brennan, cũng có những tác giả người Việt Nam, để lý giải Thần Thông.
- Nếu đứng trên quan điểm của Tôn giáo của trường phái Phật Giáo, thì người ta công nhận có Thần Thông và quan niệm rằng: 
   * Thần Thông là pháp tu rất cao và khó.
   * Thần Thông không liên quan đến Nhân Quả.
- Có người cũng công nhận có Thần Thông, bằng cách sao chép những tài liệu nói về Thần Thông.
- Rất nhiều người khác, tạm mô tả là tu hành có hình thức, thường đến một nơi thờ phụng Tôn giáo nào đó, làm những nghi thức Tôn giáo và họ chẳng biết gì về vấn đề Thần Thông. Nói chung là người ta thờ ơ với vấn đề này.

3. Liệt kê các loại Thần Thông:

Quý độc giả có thể tham khảo rất nhiều tài liệu về các cách liệt kê các loại Thần Thông như kinh Patanjali, Trung bộ kinh, Vi Diệu Pháp … và còn nhiều tài liệu khác nữa.

Để tiện việc nghiên cứu, tham khảo …, chúng tôi xin được liệt kê một số - tạm gọi là khả năng Thần Thông. Phần liệt kê này, xin được chú thích thêm những từ ngữ chuyên môn để tiện cho quý độc giả khi có nhu cầu truy cập, tham khảo. Những từ ngữ sau đây có tiếng Việt, Anh, Pháp, Đức.

Xuất hồn (Out of body experience).
Thấu thị (Clairvoyance).
Thần giao cách cảm (Telepathy).
Di chuyển đồ vật (Psychokinesis), kinh sách gọi là Thần Lực.
Tiên tri (Precognition).
Hậu tri (Retrolognition).
Luân hồi (Reincarnation).
Ma quấy rối (Poltergeist).
Ma ám (Haunting).
Và còn nhiều các thể loại khác.

4. Phân loại các hiện tượng Thần Thông:

Chúng tôi tạm phân các hiện tượng Thần Thông ra làm 3 loại:   

- Các hiện tượng Tự nhiên Khách quan.
- Hiện tượng bị Nhập, từ cá nhân đến tập thể (dedoublement du personnage - Nhị trùng bản ngã).
- Thần Thông do con người tạo ra.

a. Hiện tượng Tự nhiên Khách quan: Có nhiều vô số. Để tránh chìm đắm trong quá nhiều thông tin, ta chỉ nêu ra một số trường hợp nổi tiếng điển hình: 

Chắc mọi người đều biết hiệu ứng Uri Geller, là tên của một người lính nhảy dù người Do Thái. Ông có khả năng bẻ cong chiếc muỗng bằng tư tưởng của mình. Năm 1974, trong một buổi trình diễn trên tivi, khán thính giả đang xem truyền hình tại nhà của mình thấy các vật dụng kim loại trong nhà cũng bị cong. Ông đi trình diễn khắp thế giới, gặt hái rất nhiều kết quả khả quan, kiếm được khoảng 1 triệu đô la.

Tuy nhiều ảo thuật gia cho màn biểu diễn đó chỉ là ngụy tạo, nhưng lại có những viện khảo cứu của những trường đại học tại Anh Quốc xác nhận hiệu ứng Uri Geller là có thật. Randi, một Ảo Thuật Gia thì lại không công nhận. Năm 1996 Randi quyên góp được 670.000 đô la và nói sẽ thưởng cho ai có thể làm cong được chiếc muỗng. Tiền thưởng một ngày một tăng lên, nhưng cho đến nay chẳng có ai lãnh được cả.

Thông Thiên Học có kể đến bà Blavasky từng tạo ra một vật dụng dùng để ăn cơm, nửa giống muỗng, nửa giống nĩa không rõ ràng. Quay trở lại hiệu ứng Uri Geller, có biết bao nhiêu bộ sách, bộ phim làm ra nhưng vẫn chưa có lời giải. Phải kể thêm một điều đáng gọi là kỳ lạ, Uri Geller được đăng lên trang bìa của một tờ báo cùng với lời cảnh báo “chỉ nhìn vào hình này thôi các vật kim loại cũng cong”. Sau đó có 300 cuộc gọi điện thoại xác nhận việc cong các vật dụng kim loại. 

Việc nhìn thấy hào quang của con người hay các sinh vật, từ xưa vốn được coi là một đặc sản của các Tu sĩ. Nhưng kể từ năm 1939 thì việc đó đã hoàn toàn thay đổi. Một kỹ sư người Nga tên Kirlan, trong khi sửa chữa máy điện cao tần, ông bị phóng điện. Ông nảy ra tư tưởng chụp hình các vật để trong điện trường cao tần và các vật đã phát ra hào quang. Hiệu ứng này sau đó được mang tên ông, gọi là hiệu ứng Kirlan. 

Người ta giải thích hiệu ứng như sau: Khi đặt một vật trong điện trường cao tần, thì vật đó cũng hấp thụ và phản xạ. Năm 1950 ông được cấp kinh phí để xây dựng phòng thí nghiệm. Năm 1970, George Hadjo, người Anh, phát minh ra máy chụp hào quang, phát minh này nói lên phần nào hiện tượng hào quang mà các tu sĩ từng nhìn thấy. Tuy nhiên, việc chẩn trị bằng hào quang như Lobsang Rampa từng nói tới trong những bài viết của mình, thì khoa học chưa xác định được .

Vấn đề Khí công hay còn gọi là Nhân điện … của những Thầy chữa, Võ sinh, người tu Thiền định, rất ít người có được. Một cuộc thử nghiệm tại Đại học Showa Tokyo, tỷ lệ 3/37 người có khả năng phát được tín hiệu. Người ta đo được từ 3 cho đến 4 miligauss. Ngoài ra còn ghi nhận được bức xạ nhiệt sau khi phát công, khoảng từ 20 đến 30 phút, nhiệt độ ghi nhận được ở bàn tay từ 40 C đến 60C.

- Những con Voi có khả biết trước có sóng thần. 
- Chó biết trước chủ về, mặc dù còn cách rất xa.
- Chim, Bướm di trú nhiều ngàn cây số.
- Thôi Miên được coi như hiệu ứng Mesmer vì ông đã tìm ra nó, rồi sau đó là Jean Charcote, Sigmund Freud cũng tham gia vào vấn đề thôi miên năm 1885. Đến nay người ta vẫn không hiểu, không có một lý thuyết nào đáng tin cậy để giải thích về hiệu ứng thôi miên. Vì vậy Thôi Miên hay Tác Pháp vẫn còn là ẩn số.

b. Hiện tượng bị Nhập từ cá nhân đến tập thể (Dedoublement du personnage: Nhị trùng bản ngã). Chúng ta sẽ đề cập tới 3 vấn đề:

- Tại sao bị Nhập?
- Ai Nhập vào con người?
- Nhập vào để làm gì?

Tại sao bị Nhập?

Vấn đề này đã được đề cập đến rất nhiều trong những bài viết trước. Chúng ta có thể đưa ra một mô hình phản biện khá đơn giản: Có một Chư vị bất kỳ nào đó thích tìm cách Nhập vào thân xác của một người, mà người đó giữ 4 giới cơ bản: Sát, Đạo, Dâm, Vọng không? Tại sao các Chư vị lại không thích Nhập vào? Mong quý độc giả tự tìm câu trả lời. Chúng ta có thể phát biểu gần như là một công thức sau đây: Hiện tượng bị Nhập xảy ra khi Dục Vọng của người tu Thiền Định hay Pháp Môn nào đó tương thích với Dục Vọng của một Thực Thể muốn Nhập. Một cách bình dân mà nói thì đó là “Ngưu tầm Ngưu, Mã tầm Mã”. 

Tu bất cứ trường phái nào mà giữ Giới, giảm thiểu Dục Vọng, thì chẳng có Thực Thể nào muốn Nhập cả. Thật thế, Nhập mà chẳng thỏa mãn được Dục Vọng nào cả; chẳng hạn như thỏa mãn cái Tôi, được người khác xưng tụng bằng Cô, Cậu …, biết chữa bệnh mà chẳng học trường Y khoa nào cả, chỉ bảo Tu Hành, nhưng không chỉ bảo giữ Giới … như thế thì Nhập có được ích lợi gì? Nói tóm lại, việc bị Nhập là “Dục Vọng lại gặp Dục Vọng - đó là sự đồng thuận của đôi bên”, chủ nhà mà không muốn, không mời thì không ai có thể vô nhà mình được. Hơn thế nữa, có người còn cảm thấy thích thú vì có người Nhập vào mình.

Ai nhập vào con người?

Số lượng Thực Thể có khả năng Nhập vào con người không thể kể hết. Thí dụ như Thần Quyền, Phật Quyền, cầu mong có sức mạnh khác thường để đánh thắng người khác. Rất có thể các Vong Linh là các Súc Sanh, do định luật Tương Ưng đã nhập vào mình. Có người thích chữa bệnh như Barbara Ann Brennan và bị các Thực thể là các Thầy Chữa Nhập vào. Chính bà đã xác định điều này. Có người thích viết sách về những chuyện huyền bí như Blavasky thì có các vị Chân Sư Nhập vào.

Có 1 cách chủ quan để phân biệt nếu quý độc giả đã đọc bài nói về SẮC. Chỉ cần căn cứ vào số lượng Sắc, thì chúng ta có thể phân biệt được một cách chính xác các Cảnh Giới, không lầm lộn Cảnh Giới này với Cảnh Giới khác. Nếu người học Thần Quyền cho rằng Phật Nhập vào mình, thì có lẽ quá ngây ngô và ngớ ngẩn! 

Nhập vào để làm gì?

Không cần nói quý độc giả cũng biết, ở những Cảnh Giới có hiểu biết cao hơn con người chúng ta, thì họ chẳng dại dột gì lại sử dụng thân xác vật chất. Chúng ta có bao giờ nghe nói một vị nào đó ở cảnh Tứ Thiền Hữu Sắc trở lên, mà lại nhập vào xác con người không? Trước nhất, Cảnh Giới này do trình độ Thiền Định phát triển hơn con người rất nhiều, phần Nhãn thấu suốt nhiều vấn đề, Cảnh Giới gần như không còn khổ đau, thì một logique đơn giản là Nhập vào thân xác con người liệu có lợi gì?

Lá thư sau đây là bản tin thời sự mới nhất (ngày 16/8/2012), mời quý độc giả tham khảo và ứng dụng những gì mà bài viết này nói về vấn đề nhập. Chúng tôi không dịch để giữ tính chất trung thực, kèm theo cả “hình minh họa”.
(an image of what these aliens look like)

They "repair" him, he never gets sick, but they do many painful and ugly things to him ... like putting their hands into his stomach or his head. He told me that he sometimes managed to kill some aliens. He can also withstand their paralysis ... so I want to ask you to find out what these beings want from him and why they always visit him every night and visit any person that are his friends or family. I also sent you an image of what these aliens look like.

c. Thần Thông do con người tạo ra:

Đối với các hiện tượng thiên nhiên trong giai đoạn bình minh của lịch sử, tổ tiên của loài người cảm thấy quá nhỏ bé trước các thảm họa thiên nhiên: sấm, chớp, lụt bão v.v… Con người có thể có 3 khả năng sau đây:
1.                            Do kém hiểu biết, sợ hãi, van vái cầu xin các vị Thần Sấm, Thần Sét … có thể đó là nguồn gốc của Đa thần. 
2.                            Kỹ thuật đẻ ra do yêu cầu của cuộc sống, vào hang động tránh mưa gió, chế tạo vũ khí để tự vệ và săn mồi. 
3.                            Có những người lại nghĩ ra cách khác, không chống lại thiên nhiên. Ngược lại, họ hòa nhập vào thiên nhiên. Có lẽ lịch sử của Thiền Định đã bắt đầu như thế. Với việc Tĩnh Tọa, Trầm Tư Mặc Tưởng về điều gì đó, bỗng nhiên họ rơi vào trạng thái Nhập Định. Thế rồi cùng với chiều dài lịch sử, kỹ thuật Thiền Định dần được cải tiến, phát xuất từ thực nghiệm. Do đó, nếu chúng ta nghiên cứu thực sự những tài liệu cơ bản, sẽ phát hiện ra những lời nói được gọi là Kinh, phát xuất từ kinh nghiệm. Sau đó lý thuyết được xây dựng dựa trên chính kinh nghiệm thực tế đó. Công thức của trường phái Phật Giáo, cũng như trường phái Yoga, thực sự chỉ là những bản photo. Tiến trình Nhập Định hoàn toàn giống nhau:
- Raja Yoga: Dharana, Dhyana, Samadhi.
- Phật Giáo: Tầm, Tứ, Nhất tâm.

Sau đây là công thức tu Thiền Định:
- Raja Yoga: Kỷ luật bản thân, Kiểm soát tinh thần, Tham Thiền Nhập Định.
- Phật Giáo: Giới, Định, Huệ.

Lúc nào thì Thần Thông xuất hiện?
1.                            Raja Yoga: Samyama gồm 3 bước: Dharana, Dhyana, Samadhi. Thần thông xuất hiện ở giai đoạn Samahdi.
2.                            Phật Giáo: Cũng không khác gì Raja Yoga. Thần Thông là hệ quả tất yếu của Tứ Thiền Hữu Sắc.
Lúc này người tu Thiền Định có 1 loại thân xác gọi là Hữu Sắc của hệ thống Thiền Hữu Sắc. Ở hệ thống này, Tâm và Thân của người tu Thiền Định hoàn toàn khác với lúc mới ngồi để bắt đầu Thiền Định.

Chúng ta thử thuyết minh cho rõ phần này:
Thân Tâm lúc ngồi để tu Thiền Định
     * Tâm: Cấu tạo bằng nhiều trăm Tâm. 
     * Thân: Có ít nhất 28 Sắc Pháp. 
Thân Tâm này cần phải ăn ngủ để tồn tại, sử dụng trong cảnh Dục Giới, cảnh Thế gian, trong các cử động vật chất và trong các cử động tinh thần.
Thân của Thiền Hữu Sắc: 
     * Tâm: Chỉ còn 50, giảm xuống còn 2, 3 tâm. 
     * Thân: Chỉ còn 23 Sắc Pháp hoặc ít hơn nữa. 
Nếu vô tình bước vào Vô Tưởng Định, số Sắc Pháp còn ít hơn nữa, thân này sống bằng Hỷ Lạc (không phải là thực phẩm, nước uống, không khí). Sắc Pháp tế nhị, hình dáng lờ mờ, lúc có lúc không. Cụ thể không có thân, không có miệng, mũi, có khi không có mắt (vì không cần nhu cầu thực phẩm, nước, không khí). Thân Tâm này sử dụng trong cảnh Hữu Sắc, đôi khi là Vô Tưởng, các động tác của loại Thân Tâm này chính là cái người ta gọi là “Thần Thông”. 
Sẽ là một sai lầm rất lớn nếu người ta tưởng các Thần Thông là cử động của Thân Tâm Dục Giới. Thật vậy, khi ngồi công phu, sau khi thật sự Nhập Định, chúng ta có thể đi từ nơi này đến nơi kia nhanh hơn cả vận tốc ánh sáng, chúng ta có thể đi xuyên qua tường, xuyên qua cửa một cách vô ngại, nói không dùng miệng, không có âm thanh mà vẫn hiểu rõ ràng, không gian xa gần không trở ngại, biết quá khứ vị lai, hiểu được tâm ý dễ dàng …

Những động tác tinh thần và Sắc nói trên của Thực Thể Thiền Hữu Sắc chỉ là những động tác bình thường, cơ bản, bền vững, chẳng có gì là Thần Thông cả. Do đó, có thể có nhiều quý độc giả, nếu thực sự đắc Thiền Hữu Sắc, thì tất nhiên đã có những động tác Tâm, Sắc bình thường, nhưng đó là Thần Thông thực sự mà quý độc giả vô tình không biết. Rất nhiều người lầm tưởng đó là Thần Thông thuộc về Thân Tâm Dục Giới. Điều này tuyệt đối mâu thuẫn và sai lầm so với lý thuyết Phật Giáo cũng như Raja Yoga. Thần Thông xuất hiện ở Samadhi hoặc Tứ Thiền Hữu Sắc (nhất tâm: Samadhi). Không có tài liệu chính qui nào nói về Thần Thông xuất hiện ở Thân Tâm thế gian, Dục Giới 

Lý thuyết về Luồng Tâm Thức của Vi Diệu Pháp lại một lần nữa khẳng định vấn đề này một cách rõ ràng và chắc chắn, không thể lầm lẫn được. Thần Thông xuất hiện ở giai đoạn Javana Tốc Hành Tâm (lúc Nhập Định) - thuộc hệ thống Thiền Hữu Sắc - không hề có tài liệu nào nói Thần Thông xuất hiện trước khi Nhập Định, lúc người tu đang ở cảnh thế gian, Dục Giới … xin quý độc giả vui lòng xem lại Trung Bộ Kinh, các bộ Vi Diệu Pháp, chân ngôn Patanjali.

Đây có thể là một tin mừng cho một số quý độc giả lâu nay tưởng lầm là mình tu tập chẳng có kết quả gì cả. Cũng thông tin này, lại có thể có một số quý độc giả lâu nay tưởng lầm rằng mình đắc Thần Thông, nhưng thật ra là Thần Thông của Tha Lực, không phải thực sự do định lực mà có. Đa nhân cách là một hiện tượng rất phổ thông.

Sự thật Thần Thông theo quan điểm của Phật Giáo và Raja Yoga không phải là mục đích di sơn, đảo hải, sờ mặt trăng mặt trời, bay trên mây. Mục đích thực sự của tu Thiền Định là đạt được sự Minh Triết. 

Câu 5: (Phần 3 của Kinh Patanjali đã ghi rõ) Thực hiện được Samyama là tiến đến giai đoạn tri giác. 
Câu 9: Tinh thần tự chủ đó là trạng thái tinh thần phát huy quyền lực trên mọi biến thể. Đây là những câu mở đầu cơ bản nhất của chương nói về thần thông. Trường phái Phật giáo cũng định nghĩa về thần thông: Thông tuệ, Trí tuệ, Thông suốt, biết mình và người trong, ngoài. Tóm lại, cả hai trường phái đều gặp nhau trong một từ chung: Minh Triết. 
Câu 51: Từ bỏ Thần Thông đã có, thì diệt được các điều xấu xa đi đến đích giải thoát, tự do.

5. Tập luyện Thần Thông khó hay dễ? Hậu quả của Thần Thông ở mặt tích cực, tiêu cực là gì và Thần Thông nào là cao nhất?

     a. Tập luyện Thần Thông khó hay dễ còn lệ thuộc vào việc người ta quan niệm thế nào là Thần Thông.

- Những hiện tượng tự nhiên khách quan như có người có thể hút các đồ vật, làm toán rợ … thì chẳng cần phải tập luyện gì cả.
- Dựa vào các Thực Thể, các Chư vị ở các Cảnh giới khác thì cũng không phải tập luyện gì nhiều. Người ta thường gọi đó là bị Nhập: lên Đồng, ,Cậu, Trạng … Rất nhiều người gọi là tu Thiền Định cũng ở trạng thái này; trong đó có những tập thể như: Phật Giáo Cao Đài, Subut, La Ti Thăng …
- Tu Thiền cũng như Thôi Miên, thực sự sử dụng Định Lực của chính mình, tập trung tư tưởng, để làm cái gì đó lại là một vấn đề khác hẳn - Quý độc giả nào tự mình tập luyện để đạt được một khả năng nào đó, chắc chắn đã thấy việc tập luyện không phải là dễ - Tập Thần Thông không phải là chuyện dễ dàng, tự nhiên mà có, nó cũng phải đi qua rất nhiều giai đoạn, mất rất nhiều thời gian, công sức …

Nếu chúng ta qui ước với nhau phát biểu sau đây: “Thần Thông là những cử động của Sắc và Tâm của các Thực Thể ở các Cảnh Giới khác với Cảnh Giới loài Người”, thì với phát biểu này, người tu có quyền chọn lựa khá rộng rãi: Từ Thần Quyền … cho đến tập luyện nhãn của các vị ở cõi Thiền Hữu Sắc, kể cả ở các cõi cao hơn nữa, đó là sự tùy chọn của quý độc giả.

Chúng ta đã định nghĩa “Thần Thông là cử động của Tâm và Sắc …”. Cử động, đi, đứng … cũng phải tập từ từ, từ bò đến đi chập chững rồi mới chạy nhảy … thì ở cảnh giới khác cũng vậy. Ở cảnh Dục Giới thế gian có em bé nào - dù là ThầnĐồng - 12, 13 tuổi mà lái được máy bay Tiềm kích, Trực thăng … bao giờ đâu! Đào tạo phi công tiềm kích, trực thăng … không phải chuyện đơn giản.

     b. Hậu quả của Thần Thông:

Chỉ duy nhất trong lúc đang Nhập Định, chúng ta phát hiện ra một loại Thân Tâm mà mình vốn có, đó là Tâm và Sắc của hệ thống Thiền Định Hữu Sắc. Trong trạng thái này, Thân Tâm của người tu Thiền Định, ngồi im bất động, chỉ có tác dụng là một công cụ hữu duyên, tạm thời. Thân Tâm ở cảnh Hữu Sắc này có những sinh hoạt hết sức bình thường, con người chúng ta lại gọi là Thần Thông, đây là một loại Thần Thông không phải xuất phát từ Dục Vọng, không cầu, không mong, chỉ là quả báo tất yếu của Thiền Hữu Sắc. Vậy mà Vi Diệu Pháp vẫn coi những Tâm này có tính chất Dị Thục có nghĩa là tạo ra Quả Báo, cũng may là Thiện Quả.

Lại có một loại Thần Thông do các Thực Thể ở cảnh Dục Giới, xuất phát từ Tâm Tham Ái, Chấp Ngã do tin tưởng mình có một cái Tôi thực sự, trường tồn, hạnh phúc  Loại Thần Thông do Tâm Mạn thực sự là một cuộc chạy đua vũ trang trên vòng đua Olympic, mang tên cuộc đua Thập Nhị Nhân Duyên”, còn gọi là vòng đua của Luân Hồi Sinh Tử hay vòng đua của Thần Chết, mà đích đến là Địa Ngục trong chính Tâm của mình. Đó là một trò chơi giải khát bằng rượu độc.

Thần Thông  Phiền Não là một hàm số đồng biến. Thần Thông phát triển thì Phiền Não tăng trưởng, chẳng làm gì trong lòng cũng buồn phiền một cách kỳ lạ. “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”. Quý độc giả nào từng trải qua việc tập luyện Thần Thông thực sự sẽ cảm nhận được tâm trạng này. Truyền thống Phật Giáo, cũng như Raja Yoga luôn cổ vũ, để có Tâm “Duy Tác”. Raja Yoga khuyến dụ tu sĩ phải từ bỏ Thần Thông, bỏ Tâm Mạn, đừng nghe lời nịnh hót của Thần Thánh, nếu muốn giải thoát.

     c. Thần Thông nào cao nhất?:

Thần Thông cao nhất có lẽ là không có Thần Thông, vì Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc, điều này người tu ai mà chẳng biết. Thật vậy, bước ra khỏi vòng Luân Hồi Sanh Tử thì Thần Thông dùng để làm chi? Một nơi không có chiến tranh, thì vũ khí dùng để làm gì? Cổ nhân từng nói “quân tử phòng thân tiểu nhân phòng gậy”. Thần thông chỉ có giá trị ở một môi trường, một tập thể nhất định nào đó mà thôi!

Chúng ta thử tưởng tượng một kịch bản hư cấu như sau: Có một hôm, ti vi khắp thế giới thông báo, Tổng thống của một số nước: Nga, Iran, Serya, North Korea, … đồng loạt tuyên  bố “I have no ego” (tôi không có ngã) … cổ phiếu khắp thế giới sẽ tăng vọt như diều gặp dông! … 11 Hàng Không Mẫu Hạm của Mỹ, F35, F22, trực thăng Hybrid Osprey V22, Apache Block III mang ra sale off … Thần thông của người tu thiền định lúc đó … cũng phải "For Lease" … vì không còn việc phải dùng. Địa đàng Eden không có kho để tồn trữ Thần Thông và vũ khí. Bách khoa từ điển Wikipedia tại Eden không có từ ngữ chiến tranh, quan trọng hơn nữa không có chữ: ICH, IO, JE, I, NGÃ, TÔI, …

6. Nhóm CTR không có ý định chống lại khoa học hiện đại  đại diện cho Satan.
   
Qui luật tư duy hiện đại giúp gì cho bộ môn này?

     * Qui Luật Tư Duy (mà chúng ta đang sử dụng) thực sự có chắc là phản ánh được TOÀN BỘ, TRUNG THỰC, CHÍNH XÁC thế giới Tự Nhiên Khách Quan không?
     * Nhiệm vụ của Qui Luật Tư Duy (luận lý hình thức) là cây cầu nối giữa qui luật logic và thế giới Tự Nhiên Khách Quan - Cây cầu nối này thực sự có làm tốt được sứ mệnh của mình 100%? 
     * Toán học chỉ là một dạng cụ thể hóa, hữu hình hóa, ngôn ngữ hóa, những Qui Luật Tư Duy chủ quan của con người, chứ chưa chắc cụ thể hóa, hữu hình hóa, ngôn ngữ hóa các qui luật tự nhiên của thế giới khách quan. Chính bản thân Qui Luật Tư Duy của con người lại chẳng biết dựa vào đâu! Có người bảo: “dựa vào thực tế khách quan …”

Do đó, phát biểu của Stephen Haw King “Một lý thuyết khoa học là một mô hình toán học mô tả và chuẩn tác hóa được các quan sát” và coi đây là một lý thuyết “tốt”. Đây là một hướng đi đúng, hay là một sai lầm lớn lao mang tính cách lịch sử, làm phương hại đến tiến hóa của nhiều tỷ người trên hành tinh này?

Có thể có rất nhiều hệ thống, Qui Luật Tư Duy khác, hoàn toàn không cần đến ngôn ngữ toán học. Hay nói một cách khác, toán học sản phẩm tư duy của con người không có chỗ đứng trong nhiều hệ thống tư duy khác. Thí dụ điển hình: 
     * NOSTRADAMUS
     * VANGA
Những người này không cần và không thể sử dụng công cụ toán học. Họ sử dụng một hệ thống Qui Luật Tư Duy khác. Trong tác phẩm “Những thế kỷ”, chúng ta không thấy một dấu vết nào của toán học. Vanga “l' horacle Bulgarie” nhà Tiên tri Bulgarie khiếm thị - được gọi là “sage de la campagne” (thông thái nhà vườn) - có lẽ không biết đến bộ môn toán học hiện hữu trên đời này.

Khả năng tiên tri (precognition) của hai vị này chẳng liên quan đến một mi li mét trường phái toán học nào cả. Người chết có lẽ có bức xạ tàn dư để có thể trông thấy, còn tương lai thì có bức xạ nào? Có lẽ khoa học hiện đại sắp nói lời chia tay với con người. Phần nhận xét xin dành cho quý độc giả.

Thay lời kết:

Có Tài mà cậy chi Tài,
Chữ Tài liền với chữ Tai một vần,
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng lẫn trách Trời gần, Trời xa,
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài,
Lời quê chắp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh.
(Kiều - Nguyễn Du)


Posted on Sunday, March 09, 2014 by Unknown

No comments



Búp bê Matryoshka là sản phẩm của nước Nga, được chế tác năm 1980. Búp bê này có nhiều con giống nhau, lồng vào nhau (Object within similar object), búp bê lớn ở ngoài có thể là một thôn nữ người Nga, mặc áo choàng dài. Nếu chúng ta mở búp bê này ra, thì tuần tự sẽ có những búp bê nhỏ hơn, tuổi cũng nhỏ hơn, cuối cùng là một búp bê nhỏ nhất là một em bé sơ sinh. Về giới tính, những búp bê nằm trong là nam cũng có thể là nữ.

Số lượng búp bê đầu khoảng từ 5 đến 8, nhưng đến nay số lượng có thể tăng lên vài chục con. Về sau số chủ đề (themes) của búp bê Matryoska càng trở nên đa dạng hơn: Có thể là những nhân vật thần tiên, cổ tích, người máy, các chính trị gia Liên Xô thuộc giai đoạn đổi mới tư duy (Perestroika)


Tại sao chúng tôi lại đề cập tới bộ búp bê dễ thương và nổi tiếng này trong đề tài thiền định? 

Xin mời quý độc giả theo dõi bài viết sau đây. Lần lượt được trình bày qua 3 phần:

     - Chưa chắc các con đường đều hướng về La Mã.
     - Gót chân Achilles của trường phái thiền định Phật Giáo.
     - Khủng hoảng về khái niệm Sắc của hệ thống thiền định Hữu Sắc.
     - ...
I. CHƯA CHẮC các CON ĐƯỜNG ĐỀU HƯỚNG về LA MÃ:

Nguyên tắc búp bê Matryoshka (Russian Nesting Dolls Principle) có một sự tương thích kỳ lạ và mô hình hóa rất nhiều hệ thống thiền định. Như quý độc giả đã biết, trường phái Tiểu Thừa kinh điển đề xướng một lối tập luyện tiệm tiến, qua nhiều giai đoạn (5 giai đoạn, 8 giai đoạn, 9 giai đoạn ... rất có thể còn nhiều giai đoạn hơn nữa) và mục đích cuối cùng là hy vọng tìm được yếu tố TỊNH (yếu tố Santi); yếu tố có thuộc tính duy nhất và là bản chất của NIẾT BÀN. Người tu thiền định thường lấy mô hình mẫu của Sakya Muni làm thước đo, làm chuẩn mực. Để vào được Niết Bàn, chúng ta cần: 

   1. Hiểu được công thức bất tử nổi tiếng của Phật Giáo (Matrika) là Vô thường, Vô ngã và Khổ não.
   2. Tu tập qua 4 giai đoạn trong nỗ lực dập tắt 10 phiền não, bao gồm: Thân kiến, Nghi, Giới cấm thủ, Dục ái, Sân, Sắc ái, Vô sắc ái, Mạn, Trạo cử và Vô minh.

Tuy nhiên, Niết Bàn chưa chắc là một điểm hẹn, một vùng đất hứa đối với tất cả mọi thực thể. Thật vậy, như quý độc giả đã biết, cô Kiều của Nguyễn Du ba chìm bảy nổi và được khuyên là:

Tu là cõi phúc, tình là dây oan.

Thế nhưng nàng Kiều lại có quan điểm riêng của mình:

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai,
Nợ tình chưa trả cho ai,
Mối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.

Thượng Đế dường như rất công bằng trong việc phân chia đồng đều cho mọi người về ý thức đạo đức, phân chia khái niệm: Chân, Thiện, Mỹ. Ngài còn phân chia cả tự do cho tất cả mọi thực thể.

"Tôi không có tự do, tôi là tự do" (Je n'ai pas la liberté, Je suis la liberté) là câu nói nổi tiếng của trường phái Hiện sinh trong thế kỷ trước. Vì "tôi là tự do" nên mỗi người đều có quyền thể hiện cá tính riêng của mình. 

Ở Dục Giới, do các Bất Thiện Tâm có vẻ có một vai trò ưu thế trong cá tánh của một thực thể bất kỳ; thế nên thông thường trong cuộc chiến này thì phần thắng lại luôn nghiêng về các Tâm Bất Thiện; trong đó ông Trời Dục Giới cũng không thoát khỏi:

Đụng vào tình ông Trời cũng mệt,
Trời lúc yêu cũng méo mặt mo,
Thất tình Trời cũng nằm co,
Em ơi! Làm phúc thí cho ... tí tình.

Trường phái thiền định nào cũng rất khó. Lý do đơn giản là vì thiền định chống lại chính mình, chống lại con người thật của mình đang sống trong cảnh Dục Giới.

Trở về với con búp bê dễ thương Matryoshka của chúng ta. Có người lại muốn chỉ có 2 con búp bê mà thôi: Con búp bê lớn ngoài cùng là chúng ta hiện nay và con nhỏ nhất, nhỏ tuổi nhất nằm trong cùng ... là Như Lai Tạng hay Phật Tánh. Trực tiếp như vậy sẽ nhanh hơn, đơn giản hơn. Vậy thì mô hình này quý độc giả đều biết: Đó chính là mô hình của Đại thừa; còn gọi là tâm truyền tâm, trực tiếp, thoại đầu, công án … Khi tu tập pháp môn này có người đã than thở:

Nói gì chỉ quán, tham thiền,
Thoại đầu, công án, ngã kềnh như rươi.

 Xin phép được nhắc lại cùng quý độc giả những câu chuyện nổi tiếng: Truyền thuyết kể rằng Tôn Giả Culapanthaka 4 tháng không thuộc nổi một đoạn kinh, Huệ Năng thì không biết chữ nhưng lại được kế thừa sự nghiệp của Tổ; trong khi Thần Tú và Anan đều là những bác học lại bị từ chối. Lý do cho nghịch lý này là tâm truyền tâm không qua trung gian ngôn ngữ, lời không diễn tả được chân lý. Phần nhận xét xin dành cho quý độc giả ...

II. GÓT CHÂN ACHILLES hay ĐIỂM YẾU của THIỀN ĐỊNH:

Cho đến tận ngày hôm nay, các bài viết về thiền định nói chung - Ở Âu Châu cũng như Mỹ Châu - cũng đều ghi nhận những hệ quả tích cực, đáng ca ngợi của thiền định, và cho rằng thiền định nên được thực hành và nhân rộng đến cho tất cả mọi người, kể cả trẻ em.

Trên thực tế, có lẽ thiền định chưa chắc đã mang lại những kết quả lạc quan như vậy! (rất mong quý độc giả đã tu thiền lâu năm đóng góp ý kiến). Bên cạnh mặt tích cực, không ai ngờ rằng thiền định có thể có những hệ quả tiêu cực. Có 2 khả năng xẩy ra cho người tu thiền định:

   1. Cho dù là tập luyện một vài năm hay nhiều năm mà nếu không nhập định được thì không có gì để nói. Vì tôi vẫn là tôi, bạn vẫn là bạn.
   2. Nếu ít nhiều thực sự nhập định được, thì vấn đề lại khác. Có rất nhiều hệ quả không thể nói hết được và khó phân biệt đâu là tích cực đâu là tiêu cực như:

      a. Tự Kỷ Ám Thị sanh ra Hoang Tưởng.
      b. Do quá mong muốn, không giữ Giới, nên bị Nhập từ nhẹ đến nặng.
      c. Mở Huệ Âm, thấy mình đi nơi này nơi kia, biết quá khứ vị lai ... chữa bệnh cho nhiều người, giảng pháp tu hành, biện tài vô ngại một cách tự nhiên, nhưng không đề cập tới giới luật: Sát, Đạo, Dâm, Vọng v.v... Thậm chí viết cả Kinh sách, viết cả Kinh A di đà (người viết bài này từng chứng kiến).
      d. Có người thực sự không bình thường, vì vay nợ của cõi âm quá nhiều, phải để người ta sử dụng thân xác mình để thỏa mãn các nhu cầu ở Dục Giới.

Khi xảy ra các hệ quả nói trên, người tu lại tưởng là mình Thiền Định thành công.

Tu Thiền mà không giữ Giới thì thường sanh ra các hệ quả không thể lường trước được. Có lẽ có một điều rất nên quan tâm, là do những cõi giới khác không có thân xác vật chất nên họ rất cần thân xác vật chất để thỏa mãn các nhu cầu ở Dục Giới như: Ăn uống, uống chất gây say, quan hệ nam nữ, thích được gọi là Cô, Cậu, Thầy ...

Trì Giới là mẹ của an toàn, Kiết Giới có lẽ không bằng Trì Giới - Đạo đức trọng Quỷ Thần kinh - Tâm tạo tác tất cả, Tâm nào Pháp đó. Có lẽ quý độc giả cũng chẳng lạ gì với 2 đại tác giả của thời hiện đại là Blavasky và Barbara Ann Brennan, từng có những tác phẩm viết về Tâm Linh nổi tiếng khắp thế giới. Chính các vị này tự kể lại rõ ràng là họ bị Nhập.

Trên đây chỉ là những hiểu biết hạn hẹp của người viết. Rất mong được quý độc giả đóng góp ý kiến chỉ bảo những sai lầm, xin chân thành cảm ơn!

Có vị độc giả đưa ra ý kiến sau đây, mà đây cũng là ý nghĩ của rất nhiều người: "Tu thiền mà phải học hành khó khăn quá, có nhiều trẻ em không cần học hành hiểu biết mà vẫn tu tốt có sao đâu? ". Thực sự thì chẳng ai muốn:

"Ma đưa lối, quỷ dẫn đường, lại tìm những lối đoạn trường mà đi".

Tu tập cách này thì thiền Đốn Ngộ đã đề cập từ lâu lắm rồi; từ sau khi Phật nhập Niết Bàn. Nhưng trên thực tế bạn và tôi đã gặp ai thành công chưa? Sau đây chúng ta thử kể một số vị nổi tiếng trên thế giới đại diện cho một số trường phái:

Yogananda: Đại diện cho trường phái Cria Yoga.
Vivekananda: Đại diện cho trường phái Raja Yoga.
Milarepa: Đại diện cho trường phái Mật Giáo Tây Tạng.
Lopsang Rampa: Đại diện cho trường phái Mật Giáo Tây Tạng.
Barbara Ann Brennan: Đại diện cho trường phái Kundalini Yoga.

Tất cả những vị nói trên, đều phải học hành, thực tập rất gian khổ trong nhiều năm. Chúng ta thử xem qua chương trình học tập của Phật Giáo Tây Tạng (theo tài liệu Présence du Bouddisme / France - Asie).

     1. Nyaya:                 4 năm.
     2. Prajnaparamita:   4 năm.
     3. Vinaya:                1 năm.
     4. Madhyamaka:      2 năm.
     5. Abhidharma:        2 năm.

Theo lời kể của Lobsang Rampa, sau khi tốt nghiệp tại Tây Tạng, ông được chỉ định sang Châu Âu để truyền bá Mật Giáo Tây Tạng. Tại Anh Quốc, ông đã tốt nghiệp bác sỹ Y khoa, tốt nghiệp Phi Công ... Ông viết rất nhiều tác phẩm mà đến ngày nay còn giá trị.

Qua phần trình bày trên, tự quý độc giả lựa chọn cách tu học nào là thực tế và hữu hiệu cho bản thân mình.

Yogananda từng nói: "Cái gì Thượng đế cũng giúp được, nhưng muốn thi đỗ thì phải học bài", hình như Ngài hiểu định luật Nhân Quả rõ hơn các vị cho mình là Phật Tử.

Vấn đề trẻ em tu Thiền, thì không phải là đề tài mới. Ở Tây Tạng gọi là Tulku, hiện tại phỏng định có khoảng 500 Tulku ở khắp Tây Tạng. Trước khi bị Trung Quốc chiếm đóng thì số lượng lên đến vài ngàn. Mỗi vị Tulku đều có những đặc điểm về tái sinh. Thí dụ: Vị Đại Lạt Ma thứ 14 là tái sinh của vị thứ 13, vị Đại Lạt Ma thứ 13 lại là hiện thân của Quán Tự Tại Bồ Tát, đó là vị Bồ Tát của Từ Bi, tay cầm cành sen trắng. Hầu hết Tulku là nam giới, cũng có nữ giới. Khi sắp qua đời, các vị này thường xác định trong đời sau họ sẽ xuất hiện ra sao, họ để lại lá thư hay bài hát, mô tả về nơi sau này để người ta đi tìm.

Việc xác nhận Tulku đôi khi rất mơ hồ và mâu thuẫn. Theo các sử gia Tây Tạng, vị Lạt Ma thứ 5 đã viết trong bản tự thuật của mình: "Người ta đưa cho tôi rất nhiều đồ vật, nhưng tôi không nhận diện được, khi ông bước ra khỏi phòng tôi nghe ông nói với mọi người rằng tôi đã thành công trong cuộc trắc nghiệm. Sau đó Ông trở thành người đỡ đầu, giám hộ gia sư (Tutor)".

Vào năm 2009, trong phim tài liệu Tulku, có người đã nhận xét: "Nếu người dân Tây Tạng không cẩn thận thì hệ thống Tulku sẽ làm tiêu tan, làm phá sản (ruin)Phật giáo Tây Tạng. Phật giáo quan trọng hơn là hệ thống Tulku". Đây là một kịch bản đầy kịch tính của xã hội Tây Tạng ngày hôm nay mà chính quyền Tây Tạng đang rất quan tâm giải quyết. Chúng ta vẫn hy vọng lịch sử về Tulku sẽ không tái diễn tại Việt Nam.

Thời gian gần đây có thêm một thành viên mới trong sân chơi Thiền Định, đó là trường phái Công Giáo hay Thiên Chúa Giáo. Theo tài liệu phổ biến tại khu vực thành phố Sài Gòn gần đây cho biết, Thiên Chúa Giáo đã thực hiện Thiền Định rất lâu, từ nhiều thế kỷ. Người ta có thể kể đến những cái tên nổi tiếng như Moses với: "Hãy về tĩnh tọa trong phòng, căn phòng dạy ta mọi sự", Thánh Pantaenus học Dhyana tại Ấn Độ, sau đó truyền cho Thánh Clement. Thời Trung cổ có giáo sĩ Richard (1173). Hai Tổ Thiền là Thomas Merton (1915 - 1968) và John Main(1926 - 1982). Cũng trong tài liệu này có ghi lại rất nhiều nhận xét, định nghĩa, giải thích về Thiền Định là gì, có cả kỹ thuật Thiền Định.

Thiền Định theo trường phái này là gì? 
Ta đừng rơi vào cạm bẫy tìm hiểu thiền qua những giảng giải đầy chữ nghĩa, thiền là một chứng nghiệm sống không thể giảng giải - "Dù nói mãi về đồ ăn, cũng không làm ta no bụng". 

Thiền không phải là một hệ thống tư tưởng. Thiền là cầu nguyện tập trung(Centering prayer); cầu nguyện không đọc kinh ... Về kỹ thuật Thiền thì giữ lưng thẳng, hơi thở điều hòa, mắt nhắm lim dim, miệng tụng mantra: "maranathan" rồi chìm vào hư vô. Ngồi xuống, giữ lưng thẳng, tụng mantra "maranathan" ngoài ra không kỳ vọng bất cứ điều gì. (Maranathan có nghĩa là: "Lạy Chúa! Xin hãy đến". Đây là ngôn ngữ Aramiac. Ngôn ngữ của Đức Chúa Giêsu dùng ngày xưa).

Theo tài liệu Thần Học thiêng liêng của tác giả Hoành Sơn. (Phần A, chương 9): "Con đường nội tiến: Suy niệm và Nhập Định" là tài liệu chính quy để học tập. Căn cứ vào tài liệu kinh thánh, mọi việc bắt đầu liên quan đến loài người là vấn đề Tội Tổ Tông. Eva, (đã nghe lời xúi dục của con Rắn) ăn trái cấm và xúi Adam ăn nên biết điều Thiện và điều Ác. Họ chỉ chưa kịp ăn trái cây trường sinh để trường thọ. Sau đó bị đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng Eden; Từ nay Adam phải làm lụng vất vả mới có ăn, Eva phải chịu mang nặng đẻ đau mới sinh được con. Con rắn (hiện thân của quỷ Satan) " ... bị nguyền rủa ... phải đi bằng bụng, phải ăn bụi đất ... Ta sẽ tạo niềm thù hận giữa ngươi và đàn bà (Eva) ... "

Thiền Định và sự hiểu biết là một mô hình đối xứng không thể tách rời, Minh Triếtlà một thuộc tính tất nhiên của Thiền Định ... Thiền định mà không đưa đến minh triết, thì Thiền định để làm gì?

Pháp môn Raja Yoga từng nói: 
     "Không tu Raja thì không có sự minh triết"
     "Không minh triết thì không tu được Raja Yoga".

Sakya Muni cho là: 
     "Thiếu sót lớn nhất trong đời người là thiếu hiểu biết
     "Tài sản lớn nhất trong đời người là hiểu biết và sức khỏe".

Căn cứ vào Kinh Thánh, thì kịch bản của Eva và Adam do ăn trái cấm, nên có sự hiểu về điều Thiện và điều Ác ... Sự hiểu biết này đã không được thưởng mà trái lại còn bị phạt rất nặng và làm liên lụy tất cả nhân loại đến tận ngày hôm nay. Nói tóm lại, sự hiểu biết rõ ràng là một tội lỗi theo quan điểm của Chúa.

Sở dĩ người ta cần phải suy nghĩ về vấn đề Tội Tổ Tông, vì nó là nguồn gốc của toàn bộ cuốn Thánh Kinh chứa đựng trong cả ngàn trang giấy. Theo hiểu biết của người viết bài này thì việc xử tội Eva và Adam có lẽ không phù hợp với luật pháp bình thường của các quốc gia có nền dân chủ. Một người không thể tự ý vừa làm ra luật pháp, vừa xét xử, vừa thi hành án ... Luật pháp phải được viết trên sự công bằng bác ái, phải ghi thành văn bản rõ ràng và phải được thực thi một cách nghiêm túc, không có bằng chứng thì không thể kết tội, chế tài phải rõ ràng ... Eva và Adam không có trạng sư để biện hộ, như vậy có lẽ việc xét xử đã không theo một trình tự tố tụng dân sự hoặc hình sự ... nào cả.

Tác phẩm: "What the Bible really says" người dịch là (Mark Howson - Wings Books - New York 1980 _ P29_IB_28) viết về Chúa như sau: "He is ruthless, wrathful, vengeful, jealous peace loving - But about all - he is almighty". Để tránh hiểu lầm là người viết bài này có ác ý. Xin quý độc giả vui lòng tự dịch.

Vậy làm sao tu Thiền Định được đây. Trí tuệ thông suốt là hệ quả tất yếu của Tứ Thiền Hữu Sắc ... điều này quý độc giả ai cũng biết. Rất có thể một số quý độc giả đang đọc bài này, có khả năng nhận biết ít nhiều quá khứ, vị lai ... Vậy Chúa sẽ đưa ra hình phạt nào cho cái tội hiểu biết loại này? Rất mong quý độc giả vui lòng góp ý kiến để Chúa có thể đưa ra quyết định phù hợp hơn với quy luật khách quan.

Nếu tôi hoặc bạn là một giáo dân và có ý định tu Thiền, hoặc đang tu Thiền, thì chắc chắn dù bạn hay là tôi cũng sẽ có 2 mối lo:

1. Kinh nghiệm lịch sử mà Thánh Kinh đã ghi lại, Tổ Tiên loài người bị trừng phạt vì ăn Trái Cấm đưa đến sự hiểu biết.

Nay tôi tu Thiền Định thì hệ quả tất yếu là sự Minh Triết (Minh Triết có gốc chữ Hán là: Sáng suốt, tách bạch, chẻ ra ... để hiểu cho rõ). Kết quả này có lẽ còn trầm trọng hơn cả cái "biết" mà Tổ Tiên loài người đã vi phạm. Vậy tôi có bị trừng phạt không? Chúa là: " ... He is almighty". Như thế này thì tôi bị trừng phạt là cái chắc.

2. Theo tài liệu được phổ biến thuộc khu vực Sài Gòn của Công Giáo, thì kỹ thuật tu Thiền Định là ... đọc mantra là "maranathan". Maranathan có nghĩa là: "Lạy Chúa! Xin hãy đến". Nếu Chúa thực sự đến, xuất hiện với hình tướng: "He is ruthless, wrathful, vengeful, jealous ...", thì liệu đây có phải là một Công Án, một Thiện Pháp để Quán Tưởng không? Câu trả lời có lẽ chúng ta phải tự tìm lấy.

III. KHỦNG HOẢNG về KHÁI NIỆM "SẮC" của các HỆ THỐNG THIỀN ĐỊNH:

Nhạc sĩ Phạm Duy trong bản nhạc Đố Ai đã viết:
Đố ai nằm ngủ không mơ,
Biết em nằm ngủ hay mơ,
Nửa đêm trăng xuống, đứng chờ ngoài hiên,
Nửa đêm anh đến  bến bờ yêu thương ….

Đúng vậy, tất cả mọi người đều nằm mơ khi ngủ. Đó là một sự thật. Ca sĩ Trúc Lam, Trúc Linh đã từng mơ:
Đêm qua em nằm mơ, mơ thấy anh lìa xa cuộc đời.
Anh đi anh bỏ em, không gởi lại một lời trăn trối.
Em khóc như trời mưa!

Ngày xưa Kiều cũng mơ thấy Đạm Tiên, theo lời kể của Nguyễn Du:
Sương in mặt, tuyết pha thân,
Sen vàng lãng đãng như gần như xa.
Rước mừng đón hỏi dò la:
"Đào Nguyên lạc lối đâu mà đến đây?"
     
Gió đâu lay động bức mành,
Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao.

Trang Tử mơ rồi tự hỏi:  
Tôi là bướm hay bướm là tôi

Với cái nhìn của nhà Phân tâm học như Erich fromm, thì cá tánh con người là một tập hợp tâm lý bao gồm: Bẩm sinh và tập thành (inne’s et acquises). Chính vì lý do này mà tạo ra cá tánh. Vẫn theo tác giả này khi phân tích giấc mơ thì có lẽ 2 cô gái kể trên được sắp vào loại “melancolique” (buồn bã), có khuynh hướng của “masochisme” (tự làm khổ mình) … Theo tài liệu “Interpretation du Rêve” thì giấc mơ chỉ là một hình thức để giải thoát ẩn ức. Các ẩn ức ở khu vực tiềm thức có cơ hội được giải thoát khi người ta nằm mơ.

Vi Diệu Pháp với đề tài “Sắc” đã đưa ra một cái nhìn mà khoa học, cho đến tận ngày hôm nay, hình như cũng không ai hiểu cả.

Có thể có hai lý do để giải thích cho chuyện không hiểu này:
   1. Có người thực chứng Thiền định nhưng lại thiếu hiểu biết về lý thuyết và kỹ thuật của Vi Diệu Pháp.
   2. Hoặc là chỉ hiểu được nghĩa của chữ, chứ không phải ý nghĩa ở sau hàng chữ. Không thực chứng cũng như thiếu kinh nghiệm về Thiền định.

Tài liệu Vi Diệu Pháp có lẽ được viết từ quan sát kinh nghiệm thực tế trong khi Thiền, chứ không phải là một tài liệu phát xuất từ trí tưởng tượng của con người bình thường. Có thể vì hai yếu tố nói trên, Vi Diệu Pháp  Kinh Vô Tự nên “Vô tri nên Bất mộ”. Chúng tôi chỉ trình bày sự thật, không có ý đề cao, khen chê bất cứ ai. Rất mong quý độc giả hiểu và thông cảm với thiện chí của người viết. Chúng tôi thành thật xin lỗi nếu có gì không hài lòng quý độc giả.

Bây giờ chúng ta đan cử một giấc mơ điển hình của bất cứ ai: Mơ đi đâu đó, gặp một số người quen, hoặc không quen, nói chuyện … Có khi sợ quá, mừng quá nên muốn kêu lên hoặc la lên nhưng cứ ú ớ, không thể thốt thành lời … cho đến khi tỉnh dậy. Giấc mơ kể trên có những đặc điểm đáng ghi nhận sau đây:
   - Trong mơ chúng ta không thấy được thân xác vật chất của mình.
   - Không nói, không nghe được; nhưng vẫn nhìn được và cảm thấy mình nói chuyện bình thường …
   - Có khi tai nạn xẩy đến trong giấc mơ như bị dao chém, bị lửa cháy, nhưng cơ thể lại không bị tổn thương, hư hỏng …

Sắc của Vi Diệu Pháp đã giải thích như sau:

Căn cứ lý thuyết về Sắc:
- Ở Cảnh Dục Giới: Sắc có đủ 28 yếu tố Sắc Pháp mà cụ thể là thế giới vật chất. Trên thực tế có rất nhiều hình thức và kết hợp khác nhau. 

28 yếu tố Sắc là Đối Tượng của thị giác. Trong lúc mơ, mắt ta vẫn còn nên nhìn thấy. Tuy nhiên Sắc vi tế hơn, do đó Sen vàng lãng đãng như gần như xa!. VìTâm tạo ra Sắc, Tâm trong lúc mơ đã có sự biến đổi, nên ta không có thân (body), không có miệng, mũi, lưỡi … Nếu có chỉ là cái hình thức gọi là Phù Trần Căn nhưng tịnh Sắc không còn, vì không còn sử dụng … vào việc gì cả. Hình thức của các giác quan như miệng, mũi, lưỡi chỉ có hình thức tượng trưng, có tính chất trang trí là chính … Vì thế, bị xe đụng, dao chém trong mơ … chỉ sợ chứ không sao cả.

Ngày nay, người ta tốn trên 2 tỷ USD để chế tạo ra xe tự hành. Xe này có khả năng đáp xuống sao Hỏa sau mấy tháng di chuyển trong không gian và hoàn tất quãng đường dài 12 phút theo vận tốc ánh sáng. Nhờ vào năng lượng nguyên tử rôbốt có thể vận hành khảo cứu lâu dài về sao Hỏa. Nhưng từ 2000 năm trước, Vi Diệu Pháp đã là cỗ xe tự hành, ít tốn kém, đã đi sâu vào trong Tâm con người, cho ta thông tin về số lượng Tâm, Sắc, Cảnh Giới … Có lẽ đây là phát minh quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại, một phát minh tìm ra chính mình, con người thật của mình và quan trọng hơn nữa là tìm ra tương lai cho thân phận con người.

Vi Diệu Pháp chính là tài liệu “Chiến lược vĩnh cửu vãn hồi hy vọng”, giải thoát con người khỏi quyền năng của Thượng Đế. Được trang bị kiến thức và kỹ thuật VDP, con nguời trở thành một vị thần Titan dưới mắt Thượng Đế! Nói tóm lại, bạn và tôi chính là tự do, tôi và bạn tìm được chính mình qua lý thuyết và kỹ thuật thiền định vi diệu của VDP.

Chúng ta đã biết từ thủa Sakya Muni và mãi cho đến sau này là Thiền Định đem đến sự Minh Triết. Chúng ta biết được "Sự Thật" và thừa nhận có nhiều Thực Thể ở nhiều Cõi, nhiều Cảnh Giới khác nhau. Khái niệm Thượng Đế là sản phẩm tưởng tượng do con người đẻ ra. Sau đó ta lại dùng sản phẩm này để dọa dẫm mọi người, cũng như dọa dẫm chính mình! ... Các Tôn Giáo hay dùng khái niệm là có Sứ Giả, nhà Tiên Tri (một hình thức như Bộ Trưởng Ngoại Giao) của Thượng Đế được mặc khải (Revelation) đến báo tin - Thực sự là một hình thức ủy nhiệm thư theo ngoại giao ngày hôm nay.

Con người bị lầm lẫn vì kịch bản có vẻ chính qui, từ ngữ có vẻ chính thức … Với mặc cảm tự ti bẩm sinh, con người công nhận Thượng Đế để bù đắp nổi lo âu, sợ hãi vốn có của mình. Thật sự chúng ta có gặp được người nào nói họ đã từng gặp Thượng Đế bao giờ đâu?

Trong giới “Giang Hồ Thiền Định” đầy hiểm ác, thì chắc chắn ai tu tập thiền định cũng muốn có được bí kíp “Vi Diệu Pháp Chân Kinh”. Trong truyện kiếm hiệp nổi tiếng “Tiếu Ngạo Giang Hồ”, Nhạc Bất Quần dù đoạt được Tịch tà kiếm phổ, nhưng phải "dẫn đao tự cung" (tự thiến mình) để luyện. Cách tập luyện theo Vi Diệu Pháp Chân Kinh thì không đến nỗi phải “vung tay tự thiến - xưng hùng thiên hạ”, nhưng cũng phải dùng đến gươm, dao theo một cách khác là:
Gươm trí tuệ đoạn dứt vô minh,
Dao từ bi đến bờ giải thoát.

Chính vì lẽ “Kẻ thù lớn nhất trong đời là chính mình

Định Dục Giới và Định Hữu Sắc:
Nhập định là vấn đề cốt lõi của Thiền Định. Nhưng Định Dục Giới và Định Hữu Sắc giống nhau hay khác nhau? Sau đây chúng ta thử tìm hiểu xem thực sự Định Dục Giới và Định Hữu Sắc có đơn giản như xưa nay người ta vẫn thực hành hay không?

Vấn đề phải đặt ra ngay đầu tiên: 
Sắc là một thuộc tính của thế gian, nghĩa là của cảnh Dục Giới. Nhưng Sắccũng thuộc về Thiền Hữu Sắc, thế là sao? Vậy Sắc thật sự là gì? 

Đây là việc rất cơ bản và cần phải làm rõ. Khi thực hành Thiền Định mà không hiểu rõ mình đang làm gì thì sanh ra Tâm Nghi. Nghi là một Bất Thiện Phápcơ bản quan trọng. Nghi còn là một trong 10 phiền não, có Tâm này thì không thể Nhập Định được. Đây là quan điểm của tinh thần truyền thống Vi Diệu Pháp. Người ta đã không có câu trả lời cho vấn đề này suốt 25 thế kỷ. Chúng ta cần phải tìm ra câu trả lời có trách nhiệm, khoa học, nghiêm chỉnh, đáng tin cậy, có cơ sở thật sự và mang tính chất thực dụng và hiệu quả cho kỹ thuật Thiền Định của hệ thống Thiền Hữu Sắc.

Theo tài liệu Vi Diệu Pháp chương 6 với đầu đề là RUPA thì Sắc có 4 phần:
     a. Phân loại các Sắc pháp.
     b. Sắc sinh khởi.
     c. Tổng hợp các Sắc.
     d. Diễn biến Sắc pháp.

Chúng ta thử tóm lược về sắc:
Sắc là cái gì luôn luôn biến động, chỉ chung các Sắc Pháp và chỉ riêng Đối Tượng của con mắt. Rupa là hình tướng và màu sắc.

Tóm lại có tất cả là 28 Sắc Pháp:
4 Ðại Chủng.
5 Tịnh Sắc. 
4 Hành Cảnh Sắc. 
2 Bản Tánh Sắc. 
1 Tâm Cơ hay Tâm Sở Y Sắc. 
1 Mạng Sắc. 
1 Thực Sắc (cộng là 18 Sắc).

Lại thêm 10 Phi Sở Tạo Sắc:
1 Hạn Giới Sắc. 
2 Biểu Sắc. 
3 Biến Hóa Sắc và
4 Tướng Sắc.

Diễn biến Sắc Pháp:
     a. Do nghiệp lúc mới gá sanh. Hậu quả của 25 loại Tâm trong quá khứ:12 Bất Thiện Tâm cộng với 8 Thiện Tâm thuộc Dục Giới và 5 Thiện Tâm thuộc Sắc Giới.
     b. Tâm từ sát na thứ 2 sanh ra Sắc Pháp.
     c. Thời tiết cũng sanh ra Sắc Pháp.
     d. Thực phẩm khi tiêu thụ cũng sanh ra Sắc Pháp.

Khi lâm chung đến sát na thứ 17 của tử Tâm, các Sắc Pháp chấm dứt. Thời tiết chấm dứt khi thi thể hoàn toàn phân hủy.

Số lượng Sắc Pháp ở các Cảnh Giới
     a. Dục Giới: Có 28 Sắc Pháp.
     b. Sắc Giới:  23 Sắc Pháp
          - Không khởi lên: là mũi, lưỡi, thân, tánh sắc.
          - Những cái khởi lên: Mắt, tai, tâm sở ý, mạng căn. Có các Sắc Pháp do Tâm và thời tiết sanh.
     c. Vô Tưởng Thiên: Có 17 Sắc Pháp. Mắt, tai, tâm sở ý. Có các Sắc Pháp do thời tiết sanh. Không có các Sắc Pháp do Tâm sanh.
     d. Vô Sắc Giới: Không có Sắc Pháp nào cả.

Phần trình bày trên đây có thể là một loại Kinh Vô Tự đối với một số quý độc giả, vì khi đọc không hiểu nói gì cả.

Có thể giải thích lý do như sau: Chúng ta muốn có một cái gì, thì cũng phải bỏ ra một cái gì. Có lẽ đây là định luật của trời đất. Lopsang Rampa từng nói “In order to get, you must give”. Thật vậy, đối với một số quý độc giả khác thì lại thấy đây là Bí Kíp, đây là Chân Kinh, đây là câu trả lời cho câu hỏi mà mình đã bỏ ra cả đời để đi tìm.

Chúng ta thử đan cử một số thí dụ mà người tu Thiền Định thường gặp, nhưng có lẽ không ai hiểu tại sao cả … Lúc công phu chúng ta nhắm mắt, có lẽ ai cũng vậy cả. Chúng ta từng gặp rất nhiều các Chư Vị khác nhau, nhưng chúng ta hoàn toàn bất lực trong việc xác định họ thuộc Cảnh Giới hay Cõi Giới nào, vì chúng ta chẳng có một tiêu chuẩn nào để đánh giá. 

Thông thường nhất người ta lẫn lộn cảnh Dục Giới với cảnh Sắc Giới, cách phân biệt như sau: Chúng ta nên nhớ lại, Dục Giới là có đủ 28 Sắc Pháp. Tuy nhiên, còn tùy thuộc vào cách phối hợp các Sắc Pháp, tùy thuộc vào Sắc Pháp nào chiếm ưu thế, Sắc Pháp nào không chiếm ưu thế. 

Cảnh Thiên của Dục Giới thì Sắc Pháp tế nhị hơn nên chúng ta không nhìn thấy được (Tâm sanh ra Thân, Tâm khác thì Sắc Pháp khác, tất nhiên Thân phải khác. Do đó, chúng ta quan sát con người chẳng ai giống ai, cụ thể là dấu tay người ta khác nhau). Thực thể của cảnh Thiên Dục Giới  thường có những hoạt động, quần áo thì nhiều màu sắc, điều đáng lưu ý là có Nam, có Nữ rất dễ phân biệt. 

Do đó, khi Nhập Định thực sự, ta hay gặp một số Chư Vị, trang phục màu sắc không rõ ràng, họ cũng có những bộ phận: Mũi, thân … nhưng không dùng được, vì thực sự các bộ phận này không có việc để dùng. Chúng ta vẫn giao tiếp bình thường, có nói chuyện qua lại, nhưng các Vị đó và cả chúng ta đều không mở miệng, nhưng vẫn hiểu được nhau, một điểm nữa nên chú ý, cử chỉ của họ nhẹ nhàng, tế nhị, khoan thai … ít cử động, có khả năng các Vị thuộc Cảnh Sắc Giới. 

Đây có phải là hoang tưởng hay là ảo giác không? … khi xuất Định, chúng ta làm những công việc mà mình và Vị đó đã trao đổi, thực tế này chứng minh cho ta thấy đây không phải là hoang tưởng, hay mơ màng … Thực tế có nhiều chi tiết chính xác, chúng ta có thể kiểm chứng được trên thực tế vật chất.

Người viết bài này đã có kinh nghiệm thực tế là trong lúc Nhập Định, đã được chỉ dẫn là đi đến một nơi ở tại Sài Gòn, mà mình chưa hề đến bao giờ, gặp một người được báo trước lấy để một tài liệu vật chất là Đàn Pháp “Quán Âm Tự Tại”. Khi thực sự cầm Đàn Pháp này trong tay, mình còn tưởng mình là mơ.

Việc này thường xẩy ra cho người tu Thiền Định. Chính đề tài Sắc Pháp đã giúp chúng ta hiểu rõ họ thuộc Cảnh Giới nào … tránh lầm lộn với các vong linh cho chúng ta một cái gì đó và cũng đòi hỏi chúng ta phải đáp lại một cái gì đó.

Xin phép được nhắc lại một lần nữa về hiện tượng giấc mơ:

Hiệu ứng nêu trên có thể xẩy ra với đại đa số mọi người trong lúc nằm mơ. Chắc chắn chúng ta ai mà chẳng mơ. Diễn tiến có thể là một kịch bản như sau: Chúng ta có thể bất chợt đến một nơi nào đó, thậm chí là bay lúc cao, lúc thấp đến một nơi nào đó, nhưng chúng ta đều không thấy thân xác của mình, chúng ta giao tiếp với những Thực Thể không xác định được, chúng ta định nói nhưng không nói được, chúng ta không thấy mùi vị … có khi gặp các tai nạn vô cùng khủng khiếp, chúng ta chỉ ú ớ không nói nên lời, sau đó tỉnh dậy thấy mình không sao. 

Sắc Pháp giải thích như sau: Như chúng ta đã biết có 4 yếu tố sanh ra Sắc Pháp. Tâm ta lúc nằm mơ đã thu nhỏ lại, do đó Sắc Pháp cũng thay đổi. Do định luật Tương Ưng, như đã được trình bày trong những bài viết trước, chúng ta đến những cảnh giới Hữu Sắc, khả năng thuộc Dục Giới, tương ứng với cấu tạo tâm của mình. Chúng ta không có thân, không có mũi … do đó chúng ta có thể đi qua bức tường, bay lúc cao lúc thấp.

Theo Vi Diệu Pháp thì chúng ta có bao nhiêu loại mắt?

- Xin thưa có 5 loại mắt, điều này đối với khoa học ngày hôm nay thì hoàn toàn bất lực. Khoa học ngày nay quan niệm về cái nhìn (vision) như sau: Chúng ta chỉ thấy chính xác là ánh sáng (light, và bản thân ánh sáng là lưỡng tính sóng hạt), một vật là nguồn sáng, một vật là phản chiếu ánh sáng, mắt chỉ là một công cụ quang học giúp tiếp nhận hình ảnh, sau đó đưa vào não để xử lý, nếu não bị hư hỏng ở phần nhìn và hiểu, thì chúng ta chẳng thấy, chẳng hiểu gì cả.

Theo tài liệu Vi Diệu Pháp, có đến 5 thứ Nhãn:
   1. Nhục Nhãn: Của xác thịt.
   2. Thiên Nhãn: Của Chư Thiên, của người tu Thiền Định.
   3. Huệ Nhãn: Trí Huệ.
   4. Pháp Nhãn: Trí Huệ.
   5. Phật Nhãn: Bao gồm các loại Nhãn kể trên.

Thực sự mà nói, có bao nhiêu loại Tâm thì có bấy nhiêu loại Nghiệp Lực. Có bao nhiêu loại Sắc, thì bấy nhiêu loại Mắt. Do đó, chúng ta thấy Mắt con người chẳng ai giống ai.

CÔNG THỨC BÚP BÊ MATRYOSHKA  SẮC

BÚP BÊ SỐ 1: Sắc của Dục Giới.

   1. Đối tượng Quán Tưởng: Đối tượng là Sắc Pháp đầy đủ (28 Sắc Pháp). Dùng để Quán Tưởng khi Thiền Định: Lúc mở mắt để nhìn gọi là Sơ Tướng; khi nhắm mắt thì gọi là Thô Tướng.
   2. Phương tiện để Quán Tưởng: Là Nhục Nhãn, là mắt thịt. Ở trạng thái mở mắt và nhìn thấy vật chất gọi là Sơ Tướng. Ở trạng thái nhắm mắt thì tưởng tượng ra Thô Tướng và Quang Tướng. Đây là hình ảnh (image) do tưởng tượng, khác với ở trên là nhìn thấy vật chất của một vật.
   3. Chủ thể Quán Tưởng: Con người bình thường có cấu tạo trên 200 Tâm và 28 Sắc Pháp.
   4. Môi trường thực hiện: Là Dục Giới.
   5. Mục đích: Nhập Định.
   6. Công cụ: Kỹ thuật Thiền Định của Vi Diệu Pháp.


      
BÚP BÊ SỐ 2: Sắc của Sắc Giới.

     1. Đối tượng quan sát: Sắc vi tế, chỉ có 23 Sắc Pháp. Quang Tướng là Sắc Pháp dùng làm đối tượng để Quán Tưởng.
     2. Phương tiện Quán Tưởng: Thiên Nhãn, nhắm mắt chỉ thấy hình ảnh.
     3. Chủ thể Quán Tưởng: Là con người bình thường, tự bỏ đi một số Sắc Pháp là các giác quan vốn có, ở trong trạng thái Nhập Định, có ít hơn 50 Tâm.
     4. Môi trường: Là Sắc Giới.
     5. Mục đích: Định Hữu Sắc.
     6. Công cụ: Kỹ thuât Thiền Hữu Sắc của Vi Diệu Pháp.
Tiến trình Thiền Định này mang mầu sắc của chủ nghĩa đào thải tự nhiên. Đây chính là chủ nghĩa Darwinisme. Một sự trùng hợp khá kỳ lạ của hai chủ nghĩa Duy vật và Duy linh.

PHỤ LỤC ĐỂ GIẢI THÍCH VỀ SẮC

Giải thích Vi Diệu Pháp và đem những kiến thức này ứng dụng vào Thiền Định là một công việc “lành ít, dữ nhiều” và khả năng “thân bại danh liệt” là rất cao. Có lẽ đó là một công việc ngây thơ và ngớ ngẩn. Trải qua suốt chiều dài của lịch sử, phần đông người ta chỉ làm công việc sao chép các bảng thống kê, thêm bớt chút ít, rồi viết tên vào thế là xong. Công việc này tuy mất công nhưng ít nguy hiểm và có thể gọi là “lành” nhất.

Cũng giống như lý thuyết tương đối của Einstein, muốn hiểu được lý thuyết này thì kinh nghiệm sống hằng ngày không giúp gì cho chúng ta cả. Ngược lại nó còn làm trở ngại trong công việc tìm hiểu, học hỏi lý thuyết tương đối. Việc này cũng xẩy ra tương tự như tìm hiểu và học tài liệu Vi Diệu Pháp. Điều này quý độc giả sẽ nhận biết ra khi đọc phần sau của bài viết.

Sắc là gì? Nói một cách nôm na thì Sắc là vật chất. Chúng ta chọn từ ngữ này để cho dễ hiểu, nhưng từ ngữ vật chất này không thể hiểu hoàn toàn giống như chúng ta từng học ở trong trường. Vật lý học cho chúng ta biết là thế giới vật chất được xây dựng nên do khoảng 117 nguyên tố. Căn cứ vào mô hình chuẩn thì vũ trụ được tạo dựng nên do 3 hạt hạ nguyên tử Lepton, Quart, Higgs … Higgs tạo ra vật chất cho các hạt khác.

Sắc lại cho chúng ta một khái niệm hoàn toàn khác. Thế giới vật chất chúng ta được cấu tạo bởi 28 yếu tố, gọi là 28 Sắc Pháp với khoảng 21 kiểu phối hợp. Khái niệm này không thể kiểm chứng được nhưng khi đem ứng dụng vào thực tế trong nhiều trường hợp lại tỏ ra rất hữu dụng. Kiến thức này có thể giải thích một cách có hiệu quả một số trường hợp nêu sau:

      a. Rất có thể quý độc giả trong lúc Thiền Định gặp rất nhiều Thực Thể, chủng loại đa dạng về Sắc, rất khác con người. Có Thực Thể có 3 đầu, có Thực Thể chỉ là một đống thịt.

      b. Nếu chúng ta giả thuyết là có Ma (rất có thể quý vị độc giả đã từng gặp rồi), thì Sắc Tướng của Ma cũng rất đa dạng. Theo lời kể, thì chẳng có Ma nào giống Ma nào. Mặt khác, Ma hãy dọa dẫm người ta. Hiện tượng này chứng tỏ cấu tạo Tâm của Ma chẳng khác gì cấu tạo Tâm của con người đang sống. Có khác chăng chỉ là cấu tạo Sắc Pháp khác nhau mà thôi.

     c. Khi mơ, mình vẫn biết mình là mình, suy nghĩ không khác, kiến thức không thay đổi, chứng tỏ cấu tạo Tâm không khác là bao nhiêu. Tuy nhiên, cấu tạo Sắc Pháp lại hoàn toàn khác, chúng ta không thấy thân xác mình, không nói được, không làm chủ được các cử động, một người từng học võ trong mơ lại không có khả năng đánh võ.

Nguồn gốc của vật chất khác hẳn những gì chúng ta học tại nhà trường. Theo truyền thống Vi Diệu Pháp thì Nghiệp, Tâm, Môi trường, Thực phẩm, … tạo ra Sắc Pháp. Nghiệp và Tâm tuy vô hình vô ảnh nhưng lại có khả năng tạo ra Sắc Pháp (chúng ta nhớ lại Trường sanh ra Chất. Năng lượng sanh ra Khối lượng). Nghiệp tạo ra gần như toàn bộ con người và vật chất, Tâm tạo ra thân, miệng và lời nói.


Posted on Sunday, March 09, 2014 by Unknown

No comments